Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015


A.C. Milan
logo
Tên đầy đủAssociazione Calcio Milan S.p.A.
Biệt danhRossoneri (Đỏ-Đen)
il Diavolo (Quỷ đỏ)
Tên khácMilan Foot-Ball and Cricket Club (1899-1919)
Milan Football Club (1919-1936)
Milan Associazione Sportiva (1936-1939)
Associazione Calcio Milano (1939-1945)
Thành lập16 tháng 12 năm 1899 (115 năm trước)
với tên Milan Foot-Ball and Cricket Club
Sân vận độngSan Siro
MilanoÝ
  — Sức chứa80.074 [1]
Chủ tịchSilvio Berlusconi
Huấn luyện viênÝ Filippo Inzaghi
Giải đấuSerie A
A.C. Milan mùa giải 2012-13Serie A, 3rd
Webhttp://www.acmilan.com/
Sân nhà
Sân khách
Khác
Associazione Calcio Milan S.p.A. (Công ty cổ phần Câu lạc bộ bóng đá Milan[2]), thường được biết đến với tên gọi tắt A.C. MilanAC Milan hay đơn giản là Milan, là một câu lạc bộ bóng đá của thành phố MilanoÝ được thành lập ngày 16 tháng 12 năm 1899. Tại mùa giải 2013-2014, đội bóng đang thi đấu tại Serie A, hạng đấu cao nhất của Giải vô địch bóng đá quốc gia Ý và có hệ số UEFA, chỉ số dựa trên thành tích trong 5 mùa giải cấp châu lục gần nhất của câu lạc bộ, đứng thứ 11 ởchâu Âu.[3] Ở cấp độ quốc tế, Milan cùng Boca Juniors của Argentina hiện đang giữ kỷ lục về số danh hiệu quốc tế với 18 danh hiệu,[4] trong đó có 4 Cúp Liên lục địa/Cúp thế giới các câu lạc bộ, 5 Siêu cúp châu Âu, 7 Cúp C1/UEFA Champions League và 2 Cúp các đội đoạt cúp.[5]
Nếu như ở đấu trường châu Âu, Milan là câu lạc bộ Ý có nhiều danh hiệu nhất thì tại giải vô địch bóng đá quốc gia Ý, câu lạc bộ có thành tích xếp thứ hai, sau Juventus và ngang bằng với Inter Milan, với 18 danh hiệu vô địch quốc gia (Scudetto), 5Cúp quốc gia và 5 Siêu cúp quốc gia. Trong lịch sử của mình, A.C. Milan đã từng hai lần phải xuống chơi tại Serie B trong các năm 1980 và 1982, trong đó lần đầu tiên là do án phạt của Liên đoàn bóng đá Ý vì Milan có dính líu tới vụ bê bối dàn xếp tỉ số Totonero. Vào đầu thập niên 2000 đội bóng còn dính líu tới một vụ bê bối bóng đá khác có tên Calciopoli. Đây cũng là câu lạc bộ đầu tiên từng có cầu thủ chiếm chọn cả ba vị trí đầu tiên của cuộc bình chọn Quả bóng vàng châu Âu, đó là vào hai năm 1988 khi bộ ba người Hà Lan của Milan là Marco van BastenRuud Gullit và Frank Rijkaard lần lượt xếp thứ nhất, nhì và ba trong cuộc bình chọn,[6] và 1989 với các cầu thủ Marco van BastenFranco Baresi và Frank Rijkaard (vào năm2010F.C. Barcelona đã đạt được thành tích tương tự). Trong một cuộc thăm dò của tạp chí World Soccer thực hiện vào năm 2007, đội hình A.C. Milan với bộ ba "Hà Lan bay" Gullit-Rijkaard-Van Basten dưới thời huấn luyện viên Arrigo Sacchiđược bầu chọn là đội hình cấp câu lạc bộ mạnh nhất trong lịch sử và tính chung chỉ thua đội hình các đội tuyển quốc gia Brasil năm 1970, Hà Lan năm 1974 và Hungary giai đoạn 1953-1954.[7]
Theo cuộc thăm dò thực hiện ngày 20 tháng 8 năm 2008 của tờ nhật báo la Repubblica[8] thì Milan là câu lạc bộ có nhiều cổ động viên thứ 3 ở Ý với 13,6%, xếp sau Juventus (32,5%) và đối thủ cùng thành phố của Milan là Inter (14%).[9] Trong một nghiên cứu thực hiện cùng năm của công ty Đức Sport+Markt, Milan là đội bóng có nhiều cổ động viên thứ 5 tại châu Âu và là câu lạc bộ Ý đứng cao nhất trong danh sách này.[10]
A.C. Milan hoạt động với tư cách một công ty cổ phần của Tập đoàn Fininvest kể từ năm 1986. Vị trí chủ tịch của câu lạc bộ hiện bị bỏ trống từ ngày 8 tháng 3 năm 2008[11] sau khi chủ tịch Milan là ông Silvio Berlusconi từ chức để đảm nhận cương vị Thủ tướng Ý.[12][13] Giữ quyền điều hành tạm thời của A.C. Milan hiện là phó chủ tịch câu lạc bộ, ông Adriano Galliani.[14]Milan là một trong những thành viên sáng lập Hiệp hội các Câu lạc bộ Châu Âu (ECA), tổ chức thay thế cho nhóm G-14, với mục đích bảo vệ quyền lợi về kinh tế và thể thao cho các câu lạc bộ trong mối quan hệ với FIFA và UEFA.[15]

Mục lục

  [ẩn
  • 1 Lịch sử
    • 1.1 Giai đoạn trước Chiến tranh thế giới thứ hai
    • 1.2 Thập niên 1950 và 1960
    • 1.3 Thập niên 1970 và 1980
    • 1.4 Từ thập niên 1990 đến nay
  • 2 Tóm tắt hoạt động
  • 3 Màu sắc và trang phục
  • 4 Sân nhà
  • 5 Đội hình hiện tại
    • 5.1 Đội hình chính thức
    • 5.2 Cầu thủ cho mượn
    • 5.3 Cầu thủ đồng sở hữu
  • 6 Thành viên nổi bật
    • 6.1 Số áo vinh danh
    • 6.2 Phòng danh dự
    • 6.3 Đội trưởng
    • 6.4 Cầu thủ vô địch thế giới
    • 6.5 Cầu thủ vô địch châu lục
      • 6.5.1 Châu Âu
      • 6.5.2 Nam Mỹ
    • 6.6 Cúp Liên đoàn các châu lục
  • 7 Lãnh đạo
  • 8 Thống kê và thành tích
    • 8.1 Thống kê
    • 8.2 Thành tích chính
      • 8.2.1 Danh hiệu chính thức
      • 8.2.2 Danh hiệu phụ
      • 8.2.3 Giải trẻ
  • 9 Đội tuyển trẻ
  • 10 Cổ động viên
  • 11 Hoạt động
    • 11.1 Công ty Milan
    • 11.2 Số liệu tài chính
    • 11.3 Hoạt động nhân đạo
  • 12 Chú thích
  • 13 Liên kết ngoài

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử A.C. Milan

Giai đoạn trước Chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]


Herbert Kilpinhuấn luyện viên và đội trưởngđầu tiên của Milan.
Từ ý tưởng của một nhóm cổ động viên bóng đá người Anh và Ý sống tại Milano, A.C. Milan được khai sinh vào ngày 16 tháng 12 năm 1899 với tên ban đầu Milan Foot-Ball and Cricket Club (Câu lạc bộ bóng đá và cricket Milan[16]). Sự ra đời của câu lạc bộ này được công bố chính thức trên tờLa Gazzetta dello Sport hai ngày sau, ngày thứ hai 18 tháng 12, theo đó chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ là một người Anh có tên Alfred Edwards, đồng sáng lập với Edwards còn có Barnett, Allison, Nathan, Davies và Herbert Kilpin.[17]
Tới tháng 1 năm 1900 thì câu lạc bộ được kết nạp vào Liên đoàn bóng đá Ý (tiếng ÝFederazione Italiana Football) và tới tháng 4 thì đội có trận đấu chính thức đầu tiên, đó là cuộc đối đầu với câu lạc bộ FC Torinese tại vòng bán kết của Giải vô địch bóng đá Ý 1900 (Campionato 1900).[18] Một tháng sau vào ngày 27 tháng 5, câu lạc bộ có danh hiệu đầu tiên, Medaglia del Re (Huy chương Nhà vua) sau chiến thắng 2-0 trước Juventus. Ngay trong năm thứ hai tham gia giải bóng đá quốc gia, Milan đã giành chức vô địch sau khi cắt đứt mạch vô địch liên tiếp của câu lạc bộ Genoa bằng chiến thắng 3-0 trước đội bóng này trong trận chung kết. Hai chức vô địch giải hạng nhất (Prima Categoria) tiếp theo của Milan đến vào hai năm liên tiếp1906 và 1907 nhờ chiến thắng trước Juventus tại trận chung kết năm 1906 và vị trí thứ nhất trong bảng chung kết năm 1907, xếp trên hai đội Torinovà Andrea Doria. Chỉ một năm sau, nội bộ lục đục của đội bóng đã khiến một nhóm cầu thủ tách ra và thành lập một đội bóng mới lấy tên Football Club Internazionale Milano hay Inter Milan.[19] Trong khi ngay ở mùa giải 1909-10, câu lạc bộ mới Inter đã ngay lập tức giành danh hiệu vô địch quốc gia thì ở giai đoạn tiếp theo Milan chỉ có vị trí cao nhất là thứ hai vào các mùa 1910-11 và 1911-12. Bốn năm sau, Giải vô địch bóng đá Ý phải tạm ngừng và thay thế vào đó là Cúp liên đoàn 1915-16 (Coppa Federale), tại giải đấu này Milan cuối cùng đã giành được chức vô địch sau khi xếp trên kình địch Juventus.
Năm 1919, Milan Foot-Ball and Cricket Club được đổi tên thành Milan Football Club (Câu lạc bộ bóng đá Milan).[16][20] Cái tên mới cũng đánh dấu cho một giai đoạn thi đấu sa sút của đội bóng, tuy vẫn được thi đấu tại giải hạng nhất nhưng Milan thường kết thúc mùa giải chỉ với vị trí ở giữa bảng xếp hạng, thứ hạng cao nhất của họ chỉ là vị trí thứ ba vào các mùa 1937-38 (kém ba điểm so với đội vô địch Inter) và 1940-41 (kém năm điểm so với đội đầu bảng Bologna). Những ngôi sao hiếm hoi trong giai đoạn này của Milan là Aldo Boffi và Giuseppe Meazza, cầu thủ sau này được đặt tên cho sân vận động của Milan, Sân Giuseppe Meazza, vốn cũng được xây dựng trong giai đoạn này với tên ban đầu San Siro. Sân San Siro được xây dựng vào năm 1926 nhờ những nỗ lực của chủ tịch câu lạc bộ khi đó là Piero Pirelli. Cho tới năm 1948 thì đây là sân nhà của duy nhất Milan vì câu lạc bộ cùng thành phố Inter lấy sân Arena Civica làm sân nhà của họ.[21]
Năm 1936 câu lạc bộ một lần nữa đổi tên từ Milan Football Club thành Milan Associazione Sportiva (Câu lạc bộ thể thao Milan),[22][23] cái tên này bị "Ý hóa" theo lệnh của Chế độ Mussolini vào năm 1939 thành Associazione Calcio Milano (Câu lạc bộ bóng đá Milano).[24] Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, câu lạc bộ quay lại với tên gọi tiếng Anh của mình, Associazione Calcio Milan (Câu lạc bộ bóng đá Milan)[25] hay viết tắt là A.C. Milan và giữ nguyên nó cho tới ngày nay.[26]

Thập niên 1950 và 1960[sửa | sửa mã nguồn]


Bộ ba Gre-No-Li của Milan.
Trong mùa giải vô địch Ý đầu tiên sau chiến tranh, mùa 1946-47, Milan có được vị trí thứ tư, mùa tiếp theo đội bóng leo lên được vị trí thứ hai sau khi có được danh hiệu mang tính biểu tượng "vô địch mùa đông" (campione d'inverno).[27] Tuy nhiên chức vô địch chỉ đến với đội bóng vào mùa giải 1950-51, chức vô địch này đã kết thúc cơn khát danh hiệu kéo dài tới 44 năm của A.C. Milan, đây cũng là năm mà câu lạc bộ có danh hiệu cấp châu lục đầu tiên, Cúp Latinh 1951. Đóng góp cho thành công này của đội bóng trước hết phải kể tới bộ ba cầu thủ người Thụy Điển Gunnar GrenGunnar Nordahl và Nils Liedholm hay được biết tới với tên Bộ ba Gre-No-Li, bên cạnh đó Milan còn có một huấn luyện viên xuất sắc người Hungary là ông Lajos Czeizler cùng thủ thành Lorenzo Buffon. Trong những năm tiếp theo, nhiều ngôi sao lớn bắt đầu gia nhập Milan như SchiaffinoBagnoliRadice và Cesare Maldini, đây là những cầu thủ đóng vai trò chính trong chiến thắng của A.C. Milan tạiCúp Latinh 1956 cùng ba danh hiệu vô địch quốc gia Ý các mùa giải 1954-551956-57 và 1958-59. Năm 1958 lần đầu tiên Milan lọt vào tới trận chung kết Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu nhưng đội bóng đã để thua các nhà đương kim vô địch khi đó là câu lạc bộ Real Madrid với tỉ số 2-3 sau hai hiệp phụ, đây là chiếc cúp thứ ba trong số năm chiếc cúp liên tiếp tại giải đấu này của đội bóng thành Madrid.[28]
Sau khi giành chức vô địch bóng đá Ý mùa giải 1961-62, đội bóng của huấn luyện viên Nereo Rocco cùng vua phá lưới Serie A José Altafinivà tiền vệ triển vọng Gianni Rivera đã lọt vào trận chung kết Cúp C1 thứ hai vào năm 1963. Trong trận đấu trên sân Wembley này, Milan đã vượt qua câu lạc bộ Bồ Đào Nha Benfica của Eusébio với tỉ số 2-1, người đội trưởng nhận cúp của Milan sau trận đấu là Cesare Maldini.[28][29]Sau chiến thắng này huấn luyện viên Nereo Rocco chuyển sang dẫn dắt Torino, người thay thế ông là Giuseppe Viani đã không thể giúp Milan giành Cúp Liên lục địa 1964, đội bóng đã để thua Santos của huyền thoại Pelé với tỉ số 0-1 trong trận đấu trên sân vận động Maracanã của Brasil.[29] Đây cũng là mùa giải cuối cùng của chủ tịch Milan, ôngAndrea Rizzoli, người đã có 9 năm thành công cùng đội bóng với bốn chức vô địch Ý, một Cúp Latinh, một Cúp C1 và việc xây dựng trung tâm tập huấn Milanello.[30]
Sau khi Rizzoli từ chức, Milan lại rơi vào một giai đoạn khát danh hiệu khi đội bóng chỉ giành được duy nhất Cúp quốc gia Ý mùa giải 1966-67. Cùng lúc đó thì đội bóng đối thủ cùng thành phố của Milan là Inter lại liên tiếp có được những danh hiệu quốc gia và châu lục nhờ sự dẫn dắt của huấn luyện viên huyền thoại Helenio Herrera. Chỉ tới khi Nereo Rocco quay trở lại băng ghế chỉ đạo, Milan mới cải thiện được thành tích của mình với chức vô địch quốc gia thứ chín tại mùa giải 1967-68, trong năm này Milan còn giành Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Âu nhờ chiến thắng 2-0 trước Hamburger SV với một cú đúp của Kurt Hamrin.[31] Trong năm tiếp theo Milan chỉ về đích thứ 2 tại Serie A mùa giải 1968-69, tuy nhiên họ lại có được chiếc Cúp C1 thứ hai sau chiến thắng đậm 4-1 trước câu lạc bộ Ajax của huấn luyện viên Rinus Michels.[28] Tiếp đó với hai chiến thắng liên tiếp cả trên sân nhà và sân khách trước câu lạc bộ Estudiantes của Argentina, A.C. Milan đã giành được chiếc Cúp Liên lục địa đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ này.[32] Bên cạnh các danh hiệu tập thể, tiền vệ Gianni Rivera của Milan còn giành Quả bóng vàng châu Âu năm 1969, đây là cầu thủ người Ý đầu tiên có được vinh dự này.[33]

Thập niên 1970 và 1980[sửa | sửa mã nguồn]


Đội hình câu lạc bộ giành Cúp C2 và Cúp quốc gia Ý mùa 1972-73.
Trong ba mùa giải đầu tiên của thập niên 1970, A.C. Milan đều về đích thứ hai tại giải vô địch quốc gia sau khi bị lần lượt Inter (mùa 1970-71) và Juventus (mùa 1971-721972-73) vượt qua. Đặc biệt mùa 1972-73 chứng kiến thất bại cay đắng của Milan khi họ bị Juventus qua mặt ở vòng đấu cuối cùng sau khi để thua ngay trên sân nhà trước Hellas Verona với tỉ số 3-5, trận đấu này sau đó đã đi vào lịch sử câu lạc bộ với cái tên "Fatal Verona" ("Verona chết chóc").[34] Tuy vậy những thất bại liên tiếp tại giải vô địch quốc gia của Milan được bù đắp phần nào bằng hai Cúp quốc gia Ý mùa 1971-72 và 1972-73 cùng một Cúp C2. Đây cũng là giai đoạn mà các cổ động viên của Milan ở khán đài phía Nam (curva sud) sân San Siro bắt đầu tổ chức thành các hội cổ động chuyên nghiệp, đó là Fossa dei Leoni (thành lập năm 1968, giải thể năm 2005),[35]Commandos Tigre (thành lập 1967) và Brigate Rossonere (thành lập 1975).[36]
Giai đoạn 1973-1978 chứng kiến sự khủng hoảng của A.C. Milan khi chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm câu lạc bộ đã có tới 7 vị chủ tịch khác nhau, kết quả là Milan thường chỉ kết thúc mùa giải ở nửa dưới bảng xếp hạng. Tình hình chỉ thay đổi đôi chút từ mùa 1977-78 khi ngôi sao cũ của đội bóng là Nils Liedholm trở thành huấn luyện viên của Milan và đưa Milan tới vị trí thứ 4 tại Serie A đồng thời phát hiện được một hậu vệ trẻ triển vọng cho câu lạc bộ có tên Franco Baresi. Trong mùa giảitiếp theo, Milan có được danh hiệu vô địch quốc gia thứ 10 sau khi vượt qua Perugia của Castagner, đây cũng là mùa giải cuối cùng của Gianni Rivera cho câu lạc bộ của ông.[37]
Thập niên 1980 mở đầu với câu lạc bộ bằng vụ bê bối dàn xếp tỉ số Totonero, hậu quả của vụ bê bối này là lần đầu tiên trong lịch sử A.C. Milan, đội bóng bị đánh tụt xuống Serie B[38] tuy giành được chức vô địch Serie B 1980-1981 để lên chơi tại Serie A mùa giải 1981-82 nhưng ngay tại mùa giải này câu lạc bộ đã phải xuống hạng lần thứ hai sau khi chỉ giành được 24 điểm sau 30 vòng đấu.[39] Một lần nữa Milan quay trở lại với Serie A chỉ sau một mùa giải tuy nhiên đội bóng vẫn chưa thể khôi phục lại vị thế trước kia, trong thời gian này Milan có thêm một hậu vệ tài năng mới, Paolo Maldini, người có trận đấu ra mắt vào ngày 20 tháng 1 năm 1985 ở tuổi 16.

Arrigo Sacchi và Franco Baresi cùng chiếc Cúp Liên lục địa năm 1989.
Cuối mùa giải 1985-86, một lần nữa A.C. Milan rơi vào khủng hoảng khi cuộc điều tra của Cảnh sát kinh tế Ý (Guardia di Finanza) đã phát hiện ra rằng câu lạc bộ đang ngập trong nợ nần và có nguy cơ phá sản. Ngày 20 tháng 2 năm 1986, doanh nhân người MilanoSilvio Berlusconi thay thế chủ tịch câu lạc bộ Giuseppe Farina và lập tức thanh toán mọi nợ nần cho đội bóng.[40] Với tiềm lực tài chính của mình, Berlusconi đã mang về cho Milan một loạt cầu thủ có chất lượng như DonadoniMassaroGalli và Galderisi. Tuy nhiên đội bóng của huấn luyện viên Liedholm chỉ về thứ 5 trong mùa giải mới và chủ tịch câu lạc bộ quyết định thay ông bằng một huấn luyện viên đang lên người Ý có tên Arrigo Sacchi. Gia nhập đội bóng cùng Sacchi còn có bộ đôi cầu thủ người Hà Lan Marco van Basten và Ruud Gullit trong đó Gullit vừa giành Quả bóng vàng châu Âu năm 1987. Sau khởi đầu không mấy thuận lợi, Sacchi đã đưa Milan tới chức vô địch quốc gia lần thứ 11 khi đội bóng vượt qua Napoli của Diego Maradona ở những vòng đấu cuối. Đây là chức vô địch mở ra giai đoạn hoàng kim của A.C. Milan với hai Cúp C1 liên tiếp ở mùa giải 1988-89, 1989-90, hai Siêu cúp châu Âu1990, 1991, hai Cúp Liên lục địa 1990, 1991 và một Siêu cúp Ý 1989.[41]

Từ thập niên 1990 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]


Fabio Capello, người đem về bốn chức vô địch trong năm mùa giải làm huấn luyện viên cho Milan trong thập niên 1990.
Chuỗi chiến thắng liên tiếp của Milan ở châu Âu dừng lại vào ngày 20 tháng 3 năm 1991. Trong trận tứ kết lượt về Cúp C1 trên sân của Olympique de Marseille, Milan, khi đó đang bị dẫn 1-0, đã bỏ dở trận đấu theo lệnh của tổng giám đốc Adriano Galliani, theo Galliani thì do sân vận động có một dàn đèn bị hỏng nên các cầu thủ Milan không thể tiếp tục thi đấu do tầm nhìn hạn chế. Ngay cả sau khi dàn đèn chiếu sáng đã khôi phục hoạt động, đội bóng cũng không quay trở lại thi đấu tiếp và họ lập tức bị UEFA trừng phạt bằng việc xử thua trận tứ kết này đồng thời cấm Milan không được tham gia các giải đấu cấp châu lục một năm vì hành vi phi thể thao.[42] Cuối mùa giải 1991 Sacchi rời Milan để đảm nhiệm vai trò dẫn dắt Đội tuyển bóng đá quốc gia Ý, thế chỗ của ông ở câu lạc bộ là huấn luyện viên còn ít tên tuổi Fabio Capello. Ngay trong mùa giải đầu tiên tại Milan, Capello đã đưa đội bóng tới chức vô địch Serie A với thành tích không để thua một trận nào trong suốt mùa giải 1991-92.[43] Trong mùa giải sau đó, Milan tiếp tục bảo vệ thành công chức vô địch quốc gia, đội bóng cũng lọt vào trận chung kết Cúp C1, lúc này đã được đổi tên thành UEFA Champions League, tuy nhiên Milan đã để kình địch Marseille vượt qua với tỉ số 0-1.[28] Mùa giải 1993-94 của Milan là một trong những mùa giải đáng nhớ nhất của câu lạc bộ khi Milan giành được cú đúp chức vô địch Serie A và UEFA Champions League sau chiến thắng ấn tượng 4-0 trước Barcellona trong trận chung kết tại Athena. Một năm sau đó Milan lọt vào chung kết UEFA Champions League lần thứ ba liên tiếp nhưng trong cuộc đối đầu với đội bóng Ajax trẻ trung của Louis van Gaal, Milan đã thất thủ 1-0 và không thể bảo vệ chiếc cúp vô địch của mình, đội bóng còn thất bại tại trận tranh Cúp Liên lục địa khi để thua Vélez Sársfield của Argentina với tỉ số 0-2 tại Tokyo.[28][44] Sau chức vô địch Serie A tại mùa giải 1995-96, chức vô địch thứ 4 trong vòng 5 mùa giải liên tiếp, Capello rời đội bóng và được thay thế bởi huấn luyện viên người Uruguay Oscar Tabárez.

Carlo Ancelotti từng giành chức vô địch châu Âu cùng Milan ở cả cương vị cầu thủ và huấn luyện viên.
Sự xuất hiện của Tabárez mở đầu cho một giai đoạn khủng hoảng ngắn của Milan khi huấn luyện viên này và kể cả hai người thay thế sau đó làSacchi và Capello đều không thể đem lại thành công cho đội bóng. Sau 2 năm khủng hoảng, Milan của huấn luyện viên Alberto Zaccheroni giành lại chức vô địch Serie A mùa giải 1998-99 sau khi vượt qua Lazio ở giai đoạn cuối bằng bảy trận thắng liên tiếp ở bảy vòng đấu cuối cùng.[45] Tuy nhiên hai mùa bóng tiếp theo không có danh hiệu đã khiến Zaccheroni mất chức, thay thế ông lần lượt là các huấn luyện viên tạm quyền Cesare Maldini vàMauro Tassotti[46] trước khi huấn luyện viên người Thổ Nhĩ Kỳ Fatih Terim đảm nhiệm cương vị này vào đầu mùa bóng 2001-02. Những trận đấu không thành công liên tiếp đã khiến Terim nhanh chóng mất chức, lần này người được Berlusconi mời về làm huấn luyện viên cho A.C. Milan là Carlo Ancelotti, người từng giành Cúp C1 với đội bóng khi còn là tiền vệ trụ tại đây. Ngay ở mùa giải thứ hai dẫn dắt đội bóng, Ancelotti đã giúp Milan giành được danh hiệu vô địch châu Âu đầu tiên sau gần 10 năm chờ đợi, trong mùa bóng này Milan còn có chiếc Cúp quốc gia Ý đầu tiên của kỷ nguyên Berlusconi.
Thành công tại UEFA Champions League 2002-03 của Milan được nối tiếp bằng chức vô địch Serie A thứ 17 tại mùa bóng 2003-04 và chiếc Siêu cúp châu Âu. Trong mùa giải 2004-05 Milan một lần nữa lọt vào chung kết UEFA Champions League, tại trận đấu này họ đã dẫn trước đội bóng Liverpoolcủa Anh tới 3-0 nhưng rồi để đối phương gỡ hòa và cuối cùng Milan phải chịu thất bại sau loạt đá luân lưu.[47] Vào cuối mùa giải Serie A 2005-2006, Milan bị tố cáo có dính líu tới vụ bê bối dàn xếp tỉ số Calciopoli và bị trừ 30 điểm đồng nghĩa với việc tụt xuống vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng.[48]Milan bắt đầu mùa giải 2006-07 với việc bị trừ thêm 8 điểm, phải tham gia vòng đấu loại thứ hai của UEFA Champions League và mất đi chân sút tốt nhất Andriy Shevchenko (chuyển sang Chelsea thi đấu). Tuy nhiên tới cuối mùa giải thì A.C. Milan vẫn lọt được tới trận chung kết UEFA Champions Leagues, một lần nữa đối thủ của họ là Liverpool nhưng trong trận tái đấu này hai bàn thắng của Inzaghi đã đem về cho Milan chiếc cúp vô địch châu Âu thứ bảy.[49] Trong mùa giải tiếp theo Milan có được chiếc Siêu cúp châu Âu thứ năm trong lịch sử, đội bóng cũng giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ tuy nhiên đội bóng không vượt qua được vòng 2 UEFA Champions League và chỉ có được vị trí thứ 5 tại Serie A, đồng nghĩa với việc không được thi đấu ở giải đấu cao nhất châu lục năm tiếp theo.[50] Kết thúc mùa giải 2008-09 ở vị trí thứ 3 tại Serie A, A.C. Milan có sự xáo trộn lớn khi người đội trưởng lâu năm của họ làPaolo Maldini tuyên bố giải nghệ trong khi cả huấn luyện viên Ancelotti cùng ngôi sao Kaká đều rời đội bóng, Ancelotti chuyển sang huấn luyện cho Chelsea còn Kaká tới Real Madrid với giá chuyển nhượng 67,2 triệu euro.[51] Thay thế cho Ancelotti trong vị trí huấn luyện viên là Leonardo, một cựu cầu thủ của Milan và là người trước đó chưa từng có kinh nghiệm huấn luyện chuyên nghiệp.[52]

Tóm tắt hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

AC Milan.svg
Tóm tắt lịch sử A.C. Milan
  • 1899 - Thành lập Milan Cricket and Football Club ngày 16 tháng 12

  • 1900 - Bị loại ở bán kết Giải vô địch bóng đá Ý (Campionato italiano di calcio) - Giành Medaglia del Re (Huy chương Nhà vua)
  • 1901 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Giành Medaglia del Re
  • 1902 - Thua Genoa tại chung kết Giải vô địch - GiànhMedaglia del Re
  • 1903 - Bị loại ở bán kết Giải vô địch
  • 1904 - Bị loại ở bán kết Giải vô địch - Giành Coppa della Federazione Ginnastica Italiana (Cúp Liên đoàn Thể dục Ý)
  • 1905 - Đứng thứ Z Bảng vòng loại vùng Lombardia - GiànhPalla Dapples
  • 1906 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Giành Palla Dapples
  • 1907 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Giành Palla Dapples
  • 1908 - Không tham gia Giải hạng nhất (Prima Categoria) - Giành Palla Dapples và Coppa Spensley (Cúp Spensley)
  • 1909 - Đứng thứ 2 Bảng vòng loại vùng Lombardia

  • 1909-10 - Đứng thứ 6 Bảng vòng loại 1
  • 1910-11 - Đứng thứ 2 Bảng vòng loại vùng Lombardia-Piemonte
  • 1911-12 - Đứng thứ 2 Bảng vòng loại vùng Lombardia-Piemonte - Giành Scarpa Radice
  • 1912-13 - Đứng thứ 3 Bảng chung kết miền Bắc Ý
  • 1913-14 - Đứng thứ 3 Bảng vòng loại vùng Lombardia
  • 1914-15 - Đứng thứ 4 Bảng chung kết miền Bắc Ý - GiànhScarpa Radice
  • 1915-16 - Giành Coppa Federale (Cúp Liên đoàn)
  • 1917 - Giành Coppa Regionale Lombarda (Cúp vô địch Lombardia)
  • 1918 - Giành Coppa Mauro (vô địch vùng Lombardia)
  • 1919 - Đứng thứ hai Coppa Mauro. Đổi tên thành Milan Football Club sau khi chiến tranh kết thúc

  • 1919-20 - Đứng thứ 4 Bảng A vòng bán kết quốc gia
  • 1920-21 - Đứng thứ 4 Bảng A vòng bán kết quốc gia
  • 1921-22 - Đứng thứ 9 Bảng A của Giải hạng nhất CCI - GiànhScarpa Radice
  • 1922-23 - Đứng thứ 4 Bảng B Giải hạng nhất
  • 1923-24 - Đứng thứ 8 Bảng B Giải hạng nhất
  • 1924-25 - Đứng thứ 8 Bảng B Giải hạng nhất
  • 1925-26 - Đứng thứ 7 Bảng B Giải hạng nhất
  • 1926-27 - Đứng thứ 6 Vòng chung kết Giải hạng nhất - Tham gia Cúp quốc gia Ý (ngừng ở vòng 4)
  • 1927-28 - Đứng thứ 6 Vòng chung kết Giải hạng nhất
  • 1928-29 - Đứng thứ 2 Bảng A Giải hạng nhất - Bị Genoa loại ở vòng đấu loại Cúp Trung Âu

  • 1929-30 - Đứng thứ 11 Serie A
  • 1930-31 - Đứng thứ 12 Serie A
  • 1931-32 - Đứng thứ 4 Serie A
  • 1932-33 - Đứng thứ 11 Serie A
  • 1933-34 - Đứng thứ 9 Serie A
  • 1934-35 - Đứng thứ 10 Serie A
  • 1935-36 - Đứng thứ 8 Serie A - Bán kết Cúp quốc gia Ý - Đổi tên thành Milan Associazione Sportiva
  • 1936-37 - Đứng thứ 4 Serie A - Bán kết Cúp quốc gia Ý
  • 1937-38 - Đứng thứ 3 Serie A - Bán kết Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/8 Cúp Trung Âu
  • 1938-39 - Đứng thứ 9 in Serie A - Bán kết Cúp quốc gia Ý - Đổi tên thành Associazione Calcio Milano

  • 1939-40 - Đứng thứ 8 Serie A - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý
  • 1940-41 - Đứng thứ 3 Serie A - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý
  • 1941-42 - Đứng thứ 9 Serie A - Thua Juventus ở chung kết Cúp quốc gia Ý
  • 1942-43 - Đứng thứ 6 Serie A - Tứ kết Cúp quốc gia Ý
  • 1944 - Đứng thứ 5 Giải vô địch tạm thời Lombardia
  • 1945 - Đứng thứ 6 Giải vô địch tạm thời Lombardia - Đổi tên thành Associazione Calcio Milan sau khi chiếnh tranh kết thúc
  • 1945-46 - Đứng thứ 3 Vòng chung kết Giải hạng nhất
  • 1946-47 - Đứng thứ 4 Serie A
  • 1947-48 - Đứng thứ 2 Serie A
  • 1948-49 - Đứng thứ 3 Serie A

  • 1949-50 - Đứng thứ 2 Serie A
  • 1950-51 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Giành Coppa Latina (Cúp Latinh)
  • 1951-52 - Đứng thứ 2 Serie A
  • 1952-53 - Đứng thứ 3 Serie A - Thua Stade Reims ở chung kết Cúp Latinh
  • 1953-54 - Đứng thứ 3 Serie A
  • 1954-55 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Đứng thứ 3 Cúp Latinh
  • 1955-56 - Đứng thứ 2 Serie A - Giành Coppa Latina - Bán kết Giải vô địch châu Âu
  • 1956-57 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Đứng thứ 3 Cúp Latinh
  • 1957-58 - Đứng thứ 9 Serie A - Thua Real Madrid ở chung kết Giải vô địch châu Âu - Tứ kết Cúp quốc gia Ý
  • 1958-59 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý

  • 1959-60 - Đứng thứ 3 Serie A - Vòng 1/8 Giải vô địch châu Âu - Vòng 2 Cúp quốc gia Ý
  • 1960-61 - Đứng thứ 2 Serie A - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý
  • 1961-62 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Vòng 2 Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/16Cúp Hội chợ
  • 1962-63 - Coppacampioni.png Vô địch châu Âu - Đứng thứ 3 Serie A - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý - Thua Genoa ở chung kết Coppa dell'Amicizia (Cúp Hữu nghị)
  • 1963-64 - Đứng thứ 3 Serie A - Tứ kết Cúp quốc gia Ý - Tứ kết Giải vô địch châu Âu - Thua Santos ở Cúp Liên lục địa
  • 1964-65 - Đứng thứ 2 Serie A - Vòng 1 Cúp quốc gia Ý - Vòng 1 Cúp Hội chợ
  • 1965-66 - Đứng thứ 7 Serie A - Tứ kết Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/8 Cúp Hội chợ
  • 1966-67 - Đứng thứ 8 Serie A - Giành Coccarda Coppa Italia.svg Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/8 Cúp Mitropa
  • 1967-68 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Giành Coppacoppe.png Cúp các đội đoạt cúp - Thứ 2 Vòng chung kết Cúp quốc gia Ý
  • 1968-69 - Coppacampioni.png Vô địch châu Âu - Đứng thứ 2 Serie A - Tứ kết Cúp quốc gia Ý

  • 1969-70 - Coppaintercontinentale.png Giành Cúp Liên lục địa - Đứng thứ 4 Serie A - Vòng loại Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/8 Giải vô địch châu Âu
  • 1970-71 - Đứng thứ 2 Serie A - Thua Torino ở chung kết Cúp quốc gia Ý
  • 1971-72 - Đứng thứ 2 Serie A - Giành Coccarda Coppa Italia.svg Cúp quốc gia Ý - Bán kết Cúp UEFA
  • 1972-73 - Đứng thứ 2 Serie A - Giành Coppacoppe.png Cúp các đội đoạt cúp - Giành Coccarda Coppa Italia.svg Cúp quốc gia Ý
  • 1973-74 - Đứng thứ 7 Serie A - Vòng 2 Cúp quốc gia Ý - ThuaAjax ở Siêu cúp châu Âu - Thua 1. FC Magdeburg ở chung kết Cúp các đội đoạt cúp
  • 1974-75 - Đứng thứ 5 Serie A - Thua Fiorentina ở chung kết Cúp quốc gia Ý
  • 1975-76 - Đứng thứ 3 Serie A - Vòng 2 Cúp quốc gia Ý - Vòng tứ kết Cúp UEFA
  • 1976-77 - Đứng thứ 10 Serie A - Giành Coccarda Coppa Italia.svg Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/8 Cúp UEFA
  • 1977-78 - Đứng thứ 4 Serie A - Vòng 2 Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/16 Cúp các đội đoạt cúp
  • 1978-79 - Star*.svg Scudetto.svg Vô địch Ý lần thứ 10 - Vòng 1 Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/8 Cúp UEFA

  • 1979-80 - Đứng thứ 3 Serie A - Bị giáng xuống Serie B vì dàn xếp tỉ số - Vòng tứ kết Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/16 Giải vô địch châu Âu
  • 1980-81 - Đứng thứ 1 Serie B - Thăng lên Serie A - Vòng loại Cúp quốc gia Ý
  • 1981-82 - Đứng thứ 14 Serie A - Tụt xuống Serie B - GiànhCúp Mitropa - Vòng loại Cúp quốc gia Ý
  • 1982-83 - Đứng thứ 1 Serie B - Thăng lên Serie A - Tứ kết Cúp quốc gia Ý
  • 1983-84 - Đứng thứ 6 Serie A - Tứ kết Cúp quốc gia Ý
  • 1984-85 - Đứng thứ 5 Serie A - Thua Sampdoria ở chung kết Cúp quốc gia Ý
  • 1985-86 - Đứng thứ 7 Serie A - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/8 Cúp UEFA
  • 1986-87 - Đứng thứ 5 Serie A - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý
  • 1987-88 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/16 Cúp UEFA
  • 1988-89 - Coppacampioni.png Vô địch châu Âu - Đứng thứ 3 Serie A - Giành Supercoppaitaliana.png Siêu cúp Ý - Vòng 2 Cúp quốc gia Ý

  • 1989-90 - Coppacampioni.png Vô địch châu Âu - Giành Coppaintercontinentale.png Cúp Liên lục địa - Đứng thứ 2 Serie A - Giành Siêu cúp châu Âu - ThuaJuventus ở chung kết Cúp quốc gia Ý
  • 1990-91 - Đứng thứ 2 Serie A - Coppaintercontinentale.png Giành Cúp Liên lục địa - Giành Siêu cúp châu Âu - Bán kết Cúp quốc gia Ý - Tứ kết Giải vô địch châu Âu
  • 1991-92 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Bán kết Cúp quốc gia Ý
  • 1992-93 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Giành Supercoppaitaliana.png Siêu cúp Ý - Bán kết Cúp quốc gia Ý - Thua Olympique de Marseille ở chung kết Giải vô địch châu Âu
  • 1993-94 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Coppacampioni.png Vô địch châu Âu - Giành Supercoppaitaliana.pngSiêu cúp Ý - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý - Thua Parma ở Siêu cúp châu Âu - Thua San Paolo ở Cúp Liên lục địa
  • 1994-95 - Đứng thứ 4 Serie A - Giành Siêu cúp châu Âu - Giành Supercoppaitaliana.png Siêu cúp Ý - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý - Thua Vélez Sársfield ở Cúp Liên lục địa - Thua Ajax ở chung kết Giải vô địch châu Âu
  • 1995-96 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Vòng tứ kết Cúp UEFA
  • 1996-97 - Đứng thứ 11 Serie A - Thua Fiorentina ở siêu cúp Ý - Vòng tứ kết Cúp quốc gia Ý - Vòng bảng Giải vô địch châu Âu
  • 1997-98 - Đứng thứ 10 Serie A - Thua Lazio ở chung kết Cúp quốc gia Ý
  • 1998-99 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý - Kỉ niệm 100 năm ngày thành lập (CentoMilan)

  • 1999-2000 - Đứng thứ 3 Serie A - Thua Parma ở Siêu cúp Ý - Tứ kết Cúp quốc gia Ý - Vòng bảng Giải vô địch châu Âu
  • 2000-01 - Đứng thứ 6 Serie A - Bán kết Cúp quốc gia Ý - Vòng bảng thứ 2 Giải vô địch châu Âu
  • 2001-02 - Đứng thứ 4 Serie A - Bán kết Cúp quốc gia Ý - Bán kết Cúp UEFA
  • 2002-03 - Coppacampioni.png Vô địch châu Âu - Đứng thứ 3 Serie A - Giành Coccarda Coppa Italia.svg Cúp quốc gia Ý
  • 2003-04 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Giành Siêu cúp châu Âu - ThuaJuventus ở Siêu cúp Ý - Bán kết Cúp quốc gia Ý - Thua Boca Juniors ở chung kết Cúp Liên lục địa - Vòng tứ kết Giải vô địch châu Âu
  • 2004-05 - Đứng thứ 2 Serie A - Giành Supercoppaitaliana.png Siêu cúp Ý - Tứ kết Cúp quốc gia Ý - Thua Liverpool ở chung kết Giải vô địch châu Âu
  • 2005-06 - Đứng thứ 2 Serie A - Bị giáng xuống thứ 3 Serie A vì dính líu dàn xếp tỉ số - Tứ kết Cúp quốc gia Ý - Bán kết Giải vô địch châu Âu
  • 2006-07 - Coppacampioni.png Vô địch châu Âu - Đứng thứ 4 Serie A - Bán kết Cúp quốc gia Ý
  • 2007-08 - Đứng thứ 5 Serie A - Vô địch FIFA Club World Cup.svg Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ - Giành Siêu cúp châu Âu - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/8 Giải vô địch châu Âu
  • 2008-09 - Đứng thứ 3 Serie A - Vòng 1/8 Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/16 Cúp UEFA

  • 2009-2010 - Đứng thứ 3 Serie A - Tứ kết Cúp quốc gia Ý -Vòng 1/8 Giải vô địch châu Âu
  • 2010-11 - Scudetto.svg Vô địch Ý - Bán kết Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/16 Giải vô địch châu Âu
  • 2011-12 - Đứng thứ 2 Serie A - Giành Supercoppaitaliana.png Siêu cúp Ý - Bán kết Cúp quốc gia Ý - Tứ kết Giải vô địch châu Âu
  • 2012-13 - Đứng thứ 3 Serie A - Tứ kết Cúp quốc gia Ý - Vòng 1/16 Giải vô địch châu Âu

Màu sắc và trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục nhân kỉ niệm 100 năm thành lập câu lạc bộ.
Trong suốt lịch sử hoạt động, hai màu chủ đạo của Milan luôn là đỏ (rosso) và đen (nero). Theo Herbert Kilpin thì hai màu này được chọn vì chúng tiêu biểu cho ngọn lửa của những con quỷ Milan (đỏ) và nỗi khiếp sợ của các đối thủ (đen).[53] Trang phục thi đấu của đội bóng là áo sọc đỏ đen, quần sóc và tất đen trắng, đây là lý do vì sao các cầu thủ Milan có biệt danh rossoneri (số nhiều của rossonero - đỏ đen). Trang phục sân khách của Milan là áo, quần và tất màu trắng, đây được coi là bộ trang phục may mắn của Milan khi đội đã chiến thắng tới 6 trong số 8 trận chung kết Cúp vô địch châu Âu (chỉ thua hai lần trướcAjax và Liverpool). Bộ trang phục thi đấu thứ ba được thay đổi màu sắc theo mùa bóng, ví dụ mùa 2008-2009 là màu đen, tuy nhiên bộ quần áo này ít khi được sử dụng.
Trong nhiều năm, biểu trưng của câu lạc bộ chỉ đơn giản là lá cờ trắng với chữ thập đỏ, biểu tượng của thành phố Milano.[54] Từ màu sắc của câu lạc bộ mà Milan còn một biệt danh nữa là Il Diavolo (Quỷ đỏ) vì vậy đôi khi đội bóng còn lấy biểu tượng là hình ảnh con quỷ màu đỏ bên cạnh một ngôi sao vàng, dấu hiệu riêng của những đội có trên 10 chức vô địch Ý.[54] Biểu trưng hiện tại của câu lạc bộ là huy hiệu hình bầu dục gồm sọc đỏ đen bên trái, cờ Milano bên phải, phía trên là ba chữ viết tắt ACM còn phía dưới là năm thành lập 1899.[54] Từ ngày 16 tháng 2 năm 2006, Milan có linh vật (mascot) chính thức được hãng Warner Bros thiết kế, đó là quỷ đỏ cùng trái bóng đá.[55]
Biểu trưng hiện tại của A.C. Milan.
Biểu trưng kỉ niệm 100 năm ngày thành lập câu lạc bộ.
Lá cờ của thành phố Milano.
Con vật lấy khước (mascot) của Milan.
Biểu trưng hiện tại của A.C. Milan.Biểu trưng kỉ niệm 100 năm ngày thành lập câu lạc bộ.Lá cờ của thành phố Milano.Linh vật (mascot) của Milan.

Sân nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sân vận động San Siro
Trong thời gian đầu hoạt động, Milan có nhiều sân nhà khác nhau. Từ năm 1900 tới năm 1903 sân nhà của đội bóng là sân vận động Trotter (nay là Ga trung tâm Milano). Từ năm 1903 tới năm 1905 Milan đá sân nhà tại Acquabella (nay là Piazzale Susa), sân vận động này được khánh thành ngày 15 tháng 3 năm 1903 với trận giao hữu Milan-Genoa 0-0. Từ năm 1906 tới năm 1914, sân nhà của đội chuyển về Campo Milan di Porta Monforte (sau đổi tên thành Campo di Via Fratelli Bronzetti), từ 1914 tới 1920 là Velodromo Sempione (riêng từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1919 là sân Campo Pirelli thuộc khu Bicocca) và từ 1920 tới 1926 là sân Viale Lombardia (nay là Viale Campania). Milan đôi khi cũng chọn sân nhà là Arena Civica (chung với câu lạc bộ Ambrosiana-Inter) trong thời gian 1908-1914 và 1941-1949.[56]
Hiện nay sân nhà của Milan là Stadio Giuseppe Meazza, sân vận động này còn được biết tới với cái tên San Siro lấy theo khu San Siro nơi xây dựng sân. Giuseppe Meazza được bắt đầu xây dựng từ tháng 12 năm 1925 theo kế hoạch của Piero Pirelli, người sau này trở thành chủ tịch câu lạc bộ. Nó được khánh thành chính thức vào ngày 19 tháng 9 năm 1926 với trận đấu giữa Milan và Inter (kết thúc với tỉ số 6-3 nghiêng về Inter). Từ năm 1935 thì sân vận động này trở thành tài sản của thành phố Milano và tới năm 1980 thì nó được đặt tên chính thức là Giuseppe Meazza, lấy theo tên cầu thủ huyền thoại của bóng đá Ý từng thi đấu cho cả hai câu lạc bộ Milan và Inter cũng như đội tuyển quốc gia.[57] Sau khi mở rộng để phục vụ World Cup 1990, Giuseppe Meazza có sức chứa 80.074 chỗ ngồi[58] và được UEFA xếp hạng là sân bóng đá loại 1 của châu Âu (UEFA Elite stadium).[59]Sân tập luyện của Milan hiện là trung tâm thể thao Milanello, trung tâm này được xây dựng năm 1963 thuộc tỉnh Varese.[57]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 1 tháng 9 năm 2014.[60]
Lưu ý: Các cờ cho đội tuyển quốc gia được xác định tại quy chuẩn FIFA. Cầu thủ có thể nắm giữ hơn một phi quốc tịch FIFA.
Số áoVị tríTên cầu thủ
1ÝTMMichael Agazzi
2ÝHVMattia De Sciglio
4GhanaTVSulley Muntari
5PhápHVPhilippe Mexès
7PhápJérémy Ménez
8ÝTVRiccardo Saponara
10Nhật BảnHonda Keisuke
11ÝGiampaolo Pazzini
13PhápHVAdil Rami
14ÝHVMichelangelo Albertazzi
15GhanaTVMichael Essien
16ÝTVAndrea Poli
17ColombiaHVCristián Zapata
18ÝTVRiccardo Montolivo (đội trưởng)[61]
Số áoVị tríTên cầu thủ
19PhápM'Baye Niang
20ÝHVIgnazio Abate
22ÝAlessio Cerci (mượn từ Atlético de Madrid)
23Tây Ban NhaTMDiego López
25ÝHVDaniele Bonera
27ColombiaHVPablo Armero (mượn từ Udinese)
28Hà LanTVMarco van Ginkel (mượn từ Chelsea)
32ÝTMChristian Abbiati (đội phó)[61]
33BrasilHVAlex
34Hà LanTVNigel de Jong
81ÝHVCristian Zaccardo
89ÝTVGiacomo Bonaventura
92ÝStephan El Shaarawy
98ÝHachim Mastour

Cầu thủ cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Các cờ cho đội tuyển quốc gia được xác định tại quy chuẩn FIFA. Cầu thủ có thể nắm giữ hơn một phi quốc tịch FIFA.
Số áoVị tríTên cầu thủ
BrasilTMGabriel (cho mượn tại Carpi cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[62]
ÝTMEdoardo Pazzagli (cho mượn tại Pistoiese cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[63]
RomâniaHVCristian Daminuță (cho mượn tại Viitorul cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[64]
BrasilHVMarcus Diniz (cho mượn tại Lecce cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[65]
ÝHVJohad Ferretti (cho mượn tại SPAL cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[66]
ÝHVCristian Galliani (cho mượn tại Varese cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[67]
ÝHVMarco Pinato (cho mượn tại Lanciano cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[68]
Cộng hòa SécHVStefan Šimić (cho mượn tại Varese cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[69]
HungaryHVKrisztián Tamás (cho mượn tại Varese cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[70]
ColombiaHVJherson Vergara (cho mượn tại Avellino cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[71]
Tây Ban NhaHVDídac Vilà (cho mượn tại Eibar cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[72]
SloveniaTVŽan Benedičič (cho mượn tại Leeds cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)
SloveniaTVValter Birsa (cho mượn tại Chievo cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[73]
HungaryTVAttila Filkor (cho mượn tại Avellino cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)
Số áoVị tríTên cầu thủ
ÝTVMarco Ezio Fossati (cho mượn tại Perugia cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)
GhanaTVEdmund Hottor (cho mượn tại Venezia cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[74]
ÝTVAlessio Innocenti (cho mượn tại Gorica cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[75]
ÝTVAntonio Nocerino (cho mượn tại Torino cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[76]
ÝGiacomo Beretta (cho mượn tại Pro Vercelli cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)
ÝMatteo Chinellato (cho mượn tại Südtirol cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2016)[77]
ÝGianmario Comi (cho mượn tại Avellino cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[78]
ÝAlessandro Matri (cho mượn tại Genoa cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[79]
NigeriaNnamdi Oduamadi (cho mượn tại Crotone cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[80]
ÝAndrea Petagna (cho mượn tại Latina cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[81]
BrasilRobinho (cho mượn tại Santos cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[82]
ÝGianmarco Zigoni (cho mượn tại Monza cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2015)[83]
Tây Ban NhaFernando Torres (cho mượn tại Atlético de Madrid cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2016)

Cầu thủ đồng sở hữu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đây là những cầu thủ đã được chuyển giao cho một đội khác, nhưng Milan vẫn giữ lại quyền tham gia (tức là 50% của quyền sở hữu) hợp đồng của họĐể biết thêm thông tin chi tiết, xem: Đồng sở hữu (Bóng đá).
Lưu ý: Các cờ cho đội tuyển quốc gia được xác định tại quy chuẩn FIFA. Cầu thủ có thể nắm giữ hơn một phi quốc tịch FIFA.
Số áoVị tríTên cầu thủ
ÝTVSimone Verdi (Torino,[84] đang được at Empoli)[85]

Thành viên nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Số áo vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại A.C. Milan đã ngừng sử dụng 2 số áo, số 3 và số 6, để vinh danh các cầu thủ:
SốCầu thủVị trí thi đấuSự nghiệp tại A.C. MilanGhi chú
Trận đầuTrận cuối
3Ý Paolo MaldiniTrung vệ, hậu vệ trái20 tháng 1, 198531 tháng 5, 2009Số áo này sẽ được trao cho con của Maldini trong trường hợp họ chơi cho câu lạc bộ[86]
6Ý Franco BaresiTrung vệ23 tháng 4, 19781 tháng 6, 1997

Phòng danh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng danh dự (Hall of fame) trên trang web chính thức của câu lạc bộ hiện ghi danh 48 thành viên nổi bật trong lịch sử câu lạc bộ, trong đó có 44 cầu thủ, 3 huấn luyện viên (Nereo RoccoArrigo Sacchi và Giuseppe Viani) cùng 3 người vừa là cầu thủ rồi sau đó là huấn luyện viên của A.C. Milan:[87]
  • Ý Demetrio Albertini
  • Brasil Ý José Altafini
  • Ý Carlo Ancelotti
  • Ý Roberto Baggio
  • Ý Franco Baresi
  • Đức Oliver Bierhoff UEFA European Cup.svg
  • Croatia Zvonimir Boban
  • Ý Ruben Buriani
  • Brasil Cafu
  • Ý Fabio Capello
  • Ý Alessandro Costacurta
  • Ý Fabio Cudicini
  • Pháp Marcel Desailly UEFA European Cup.svg
  • Ý Roberto Donadoni
  • Ý Alberigo Evani
  • Ý Filippo Galli
  • Ý Giovanni Galli
  • Thụy Điển Gunnar Gren
  • Hà Lan Ruud Gullit UEFA European Cup.svg
  • Brasil Leonardo
  • Thụy Điển Nils Liedholm
  • Ý Giovanni Lodetti UEFA European Cup.svg
  • Ý Aldo Maldera
  • Ý Cesare Maldini
  • Ý Daniele Massaro
  • Thụy Điển Gunnar Nordahl
  • Ý Pierino Prati UEFA European Cup.svg
  • Ý Luigi Radice
  • Hà Lan Frank Rijkaard UEFA European Cup.svg
  • Ý Gianni Rivera UEFA European Cup.svg
  • Ý Roberto Rosato UEFA European Cup.svg
  • Ý Sebastiano Rossi
  • Bồ Đào Nha Rui Costa
  • Brasil Dino Sani
  • Cộng hòa Liên bang Nam Tư Dejan Savićević
  • Uruguay Ý Juan Alberto Schiaffino W.Cup2.svg
  • Đức Karl-Heinz Schnellinger
  • Brasil Serginho
  • Ý Marco Simone
  • Ukraina Andriy Shevchenko
  • Brasil Ý Angelo Benedicto Sormani
  • Ý Mauro Tassotti
  • Ý Giovanni Trapattoni
  • Hà Lan Marco van Basten UEFA European Cup.svg
  • Ý Pietro Paolo Virdis
  • Liberia George Weah
  • Ý Paolo Maldini
  • Brasil Ricardo Kaká

Đội trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có 38 cầu thủ đeo băng đội trưởng (capitano) của A.C. Milan trong đó có 3 người đeo băng đội trưởng ở nhiều giai đoạn khác nhau là Giuseppe BonizzoniGiuseppe Antoninivà Gianni Rivera:[88]
  • Anh Herbert Kilpin (1899-1907)
  • Ý Gerolamo Radice (1908-1909)
  • Ý Guido Moda (1909-1910)
  • Bỉ Max Tobias (1910-1911)
  • Ý Giuseppe Rizzi (1911-1913)
  • Bỉ Louis Van Hege (1913-1915)
  • Ý Marco Sala (1915-1916)
  • Ý Aldo Cevenini (1916-1919)
  • Ý Alessandro Scarioni (1919-1921)
  • Argentina Ý Cesare Lovati (1921-1922)
  • Ý Francesco Soldera (1922-1924)
  • Ý Pietro Bronzini (1924-1926)
  • Ý Gianangelo Barzan (1926-1927)
  • Ý Abdon Sgarbi (1927-1929)
  • Ý Alessandro Schienoni (1929-1930)
  • Ý Mario Magnozzi (1930-1933)
  • Ý Carlo Rigotti (1933-1934)
  • Ý Giuseppe Bonizzoni (1934-1936)
  • Ý Luigi Perversi (1936-1939)
  • ÝGiuseppe Bonizzoni (1939-1940)
  • Ý Bruno Arcari (1940-1941)
  • Ý Giuseppe Meazza (1941-1942)
  • Ý Giuseppe Antonini (1942-1944)
  • Ý Paolo Todeschini (1944-1945)
  • Ý Giuseppe Antonini (1945-1949)
  • Ý Andrea Bonomi (1949-1952)
  • Ý Carlo Annovazzi (1952-1953)
  • Ý Omero Tognon (1953-1954)
  • Thụy Điển Gunnar Nordahl (1954-1956)
  • Thụy Điển Nils Liedholm (1956-1961)
  • Ý Francesco Zagatti (1961)
  • Ý Cesare Maldini (1961-1966)
  • Ý Gianni Rivera (1966-1975)
  • Ý Romeo Benetti (1975-1976)
  • Ý Gianni Rivera (1976-1979)
  • Ý Albertino Bigon (1979-1980)
  • Ý Aldo Maldera (1980-1981)
  • Ý Fulvio Collovati (1981-1982)
  • Ý Franco Baresi (1982-1997)
  • Ý Paolo Maldini (1997-2009)
  • Ý Massimo Ambrosini (2009-2013)
  • Ý Ricardo Montolivo (2013-nay)

Cầu thủ vô địch thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có 10 cầu thủ từng vô địch thế giới trong thời gian khoác áo A.C. Milan, trừ Marcel Desailly (vô địch thế giới cùng đội tuyển Pháp) và Roque Júnior (vô địch thế giới cùngBrasil), các cầu thủ còn lại đều vô địch thế giới khi khoác áo đội tuyển Ý:
  • Ý Pietro Arcari (World Cup 1934)
  • Ý Franco Baresi (World Cup 1982)
  • Ý Fulvio Collovati (World Cup 1982)
  • Pháp Marcel Desailly (World Cup 1998)
  • Brasil Roque Júnior (World Cup 2002)
  • Ý Gennaro Gattuso (World Cup 2006)
  • Ý Alberto Gilardino (World Cup 2006)
  • Ý Filippo Inzaghi (World Cup 2006)
  • Ý Alessandro Nesta (World Cup 2006)
  • Ý Andrea Pirlo (World Cup 2006)

Cầu thủ vô địch châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có 7 cầu thủ từng vô địch châu Âu trong thời gian khoác áo A.C. Milan, trừ Ruud Gullit và Marco van Basten vô địch châu Âu cùng Hà Lan, các cầu thủ còn lại đều vô địch châu Âu cùng đội tuyển Ý năm 1968:
  • Ý Angelo Anquilletti (Euro 1968)
  • Ý Giovanni Lodetti (Euro 1968)
  • Ý Pierino Prati (Euro 1968)
  • Ý Gianni Rivera (Euro 1968)
  • Ý Roberto Rosato (Euro 1968)
  • Hà Lan Ruud Gullit (Euro 1988)
  • Hà Lan Marco van Basten (Euro 1988)

Nam Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ duy nhất từng vô địch Cúp bóng đá Nam Mỹ trong thời gian khoác áo A.C. Milan là Serginho, Serginho vô địch Nam Mỹ cùng Brasil tại Cúp bóng đá Nam Mỹ 1999.

Cúp Liên đoàn các châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có 4 cầu thủ Brasil từng vô địch Cúp Confederations FIFA trong thời gian họ khoác áo A.C. Milan, đó là Leonardo (năm 1997), Dida (năm 2005), Kaká (năm 2005 và năm 2009), và Alexandre Pato (năm 2009)

Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách các huấn luyện viên (allenatore), giám đốc kỹ thuật (direttore tecnico)[89] và chủ tịch câu lạc bộ (presidente)[90] của A.C. Milan kể từ ngày thành lập:[88]
AC Milan.svg
Ban lãnh đạo của A.C. Milan
HLV và GĐKT
  • 1900-1906: Anh Herbert Kilpin
  • 1906-1907: Ý Daniele Angeloni
  • 1907-1911: Ý Giannino Camperio
  • 1911-1912: Hội đồng kỹ thuật
  • 1912-1913: Ý Piero Peverelli
  • 1913-1915: Hội đồng kỹ thuật
  • 1915-1916: Flag of Italy (1861-1946).svg Guido Moda
  • 1916-1918: Bỏ trống
  • 1918-1919: Hội đồng kỹ thuật
  • 1919-1921: Ý Guido Moda
  • 1921-1922: Bỏ trống
  • 1922-1924: Áo Ferdi Oppenheim
  • 1924-1926: Ý Vittorio Pozzo
  • 1926-1926: Ý Guido Moda
  • 1926-1928: Anh Herbert Burgess
  • 1928-1931: Áo Engelbert König
  • 1931-1933: Hungary József Bánás
  • 1933-1934: Hungary József Viola
  • 1934-1936: Ý Adolfo Baloncieri
  • 1936-1937: Anh William Garbutt
  • 1937-1938: Áo Hermann Felsner,[91] và Hungary József Bánás
  • 1938-1938: Hungary József Bánás
  • 1938-1940: Hungary József Bánás, József Viola[91]
  • 1940-1941: Ý Guido AraAntonio Busini[91]
  • 1941-1943: Ý Mario Magnozzi
  • 1943-1945: Ý Giuseppe Santagostino
  • 1945-1946: Ý Adolfo Baloncieri, Antonio Busini[91]
  • 1946-1947: Ý Giuseppe Bigogno, Antonio Busini[91]
  • 1947-1948: Ý Giuseppe Bigogno
  • 1948-1949: Ý Giuseppe Bigogno, Antonio Busini[91]
  • 1949-1952: Hungary Lajos Czeizler và Ý Antonio Busini[91]
  • 1952-1953: Ý Mario Sperone, Antonio Busini[91]
  • 1953-1953:[92] - Thụy Điển Gunnar Gren và Ý Antonio Busini[91]
  • 1953-1953: Ý Arrigo Morselli, Antonio Busini[91]
  • 1953-1954: Hungary Béla Guttman và Ý Antonio Busini[91]
  • 1954-1955: Hungary Béla Guttman
  • 1955-1956: Uruguay Ettore Puricelli
  • 1956-1957: Ý Giuseppe Viani[91]
  • 1957-1958: Flag of Italy.svg Giuseppe Viani, Luigi Bonizzoni[93]
  • 1958-1960: Flag of Italy.svg Luigi Bonizzoni, Giuseppe Viani[91]
  • 1960-1961: Flag of Italy.svg Paolo Todeschini, Giuseppe Viani[91]
  • 1961-1963: Flag of Italy.svg Nereo Rocco, Giuseppe Viani[91]
  • 1963-1964: Flag of Argentina.svg Luis CarnigliaFlag of Italy.svg Giuseppe Viani[91]
  • 1964-1965: Flag of Sweden.svg Nils LiedholmFlag of Italy.svg Giuseppe Viani[91]
  • 1965-1966: Flag of Sweden.svg Nils Liedholm
  • 1966-1966: Flag of Italy.svg Giovanni Cattozzo
  • 1966-1967: Flag of Italy.svg Arturo Silvestri
  • 1967-1972: Flag of Italy.svg Nereo Rocco
  • 1972-1973: Flag of Italy.svg Nereo Rocco,[91] Cesare Maldini
  • 1973-1974: Flag of Italy.svg Cesare Maldini
  • 1974-1974: Flag of Italy.svg Giovanni Trapattoni
  • 1974-1976: Flag of Italy.svg Gustavo Giagnoni
  • 1976-1976: Flag of Italy.svg Giovanni Trapattoni
  • 1976-1976: Flag of Italy.svg Paolo Barison
  • 1976-1977: Flag of Italy.svg Giuseppe Marchioro
  • 1977-1977: Flag of Italy.svg Nereo Rocco
  • 1977-1979: Flag of Sweden.svg Nils Liedholm
  • 1979-1981: Flag of Italy.svg Massimo Giacomini
  • 1981-1981: Flag of Italy.svg Italo Galbiati
  • 1981-1982: Flag of Italy.svg Luigi Radice
  • 1982-1982: Flag of Italy.svg Italo Galbiati, Francesco Zagatti[94]
  • 1982-1984: Flag of Italy.svg Ilario Castagner
  • 1984-1984: Flag of Italy.svg Italo Galbiati
  • 1984-1987: Flag of Italy.svg Nils Liedholm
  • 1987-1987: Flag of Italy.svg Fabio Capello
  • 1987-1991: Flag of Italy.svg Arrigo Sacchi
  • 1991-1996: Flag of Italy.svg Fabio Capello
  • 1996-1996: Flag of Uruguay (bordered).svg Oscar Tabárez,[91] Flag of Italy.svg Giorgio Morini
  • 1996-1997: Flag of Italy.svg Arrigo Sacchi
  • 1997-1998: Flag of Italy.svg Fabio Capello
  • 1998-2001: Flag of Italy.svg Alberto Zaccheroni
  • 2001-2001: Flag of Italy.svg Cesare Maldini,[91] Mauro Tassotti
  • 2001-2001: Flag of Turkey.svg Fatih Terim,[91] Flag of Italy.svg Antonio Di Gennaro
  • 2001-2009: Flag of Italy.svg Carlo Ancelotti
  • 2009-2010: Flag of Brazil.svg Leonardo
  • 2010-2014: Flag of Italy.svg Massimiliano Allegri
  • 2014- nay: Flag of the Netherlands.svg Clarence Seedorf


Chủ tịch CLB
  • 1899-1909: Flag of England (bordered).svg Alfred Edwards
  • 1909-1909: Ý Giannino Camperio
  • 1909-1928: Ý Piero Pirelli
  • 1928-1929: Ý Luigi Ravasco
  • 1929-1933: Ý Mario Bernazzoli
  • 1933-1935: Ý Luigi Ravasco[95]
  • 1935-1936: Ý Pietro Annoni
  • 1936-1936: Hội đồng lâm thời
  • 1936-1939: Ý Emilio Colombo
  • 1939-1940: Ý Achille Invernizzi
  • 1940-1944: Ý Umberto Trabattoni[95]
  • 1944-1945: Ý Antonio Busini
  • 1945-1954: Flag of Italy.svg Umberto Trabattoni
  • 1954-1963: Flag of Italy.svg Andrea Rizzoli
  • 1963-1965: Flag of Italy.svg Felice Riva
  • 1965-1966: Flag of Italy.svg Federico Sordillo[96]
  • 1966-1967: Flag of Italy.svg Luigi Carraro
  • 1967-1971: Flag of Italy.svg Franco Carraro
  • 1971-1972: Flag of Italy.svg Federico Sordillo
  • 1972-1975: Flag of Italy.svg Albino Buticchi
  • 1975-1976: Flag of Italy.svg Bruno Pardi
  • 1976-1977: Flag of Italy.svg Vittorio Duina
  • 1977-1980: Flag of Italy.svg Felice Colombo
  • 1980-1982: Flag of Italy.svg Gaetano Morazzoni
  • 1982-1986: Flag of Italy.svg Giuseppe Farina
  • 1986-1986: Flag of Italy.svg Rosario Lo Verde
  • 1986-2004: Flag of Italy.svg Silvio Berlusconi
  • 2004-2006: Bỏ trống[97][98]
  • 2006-2008: Flag of Italy.svg Silvio Berlusconi
  • 2008-nay: Bỏ trống[11][97]

Thống kê và thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ ngày thành lập A.C. Milan đã tham gia 103 mùa giải thể thao chính thức cấp quốc gia Ý trong đó có 98 mùa ở cấp cao nhất của giải bóng đá Ý (75 mùa Serie A, 14 mùa Hạng nhất - Prima Categoria, 5 mùa Giải hạng nhất - Prima Divisione và 4 mùa Hạng quốc gia - Divisione Nazionale) và 2 mùa ở cấp thứ 2 của giải bóng đá Ý (Serie B), có 3 mùa A.C. Milan không vượt qua được vòng bảng của vùng Lombardia (1905, 1909 và 1913-1914). Tổng cộng A.C. Milan đã 18 lần vô địch mùa giải, ngoài ra câu lạc bộ đứng thứ nhì 15 lần, đứng thứ ba 21 lần tức là tỉ lệ đứng trên bục nhận giải (nhóm 3 đội dẫn đầu) của A.C. Milan trong 103 mùa là 51%. Trận thắng đậm nhất của A.C. Milan ở sân nhà là trước Audax Modena với tỉ số 13-0 vào ngày 4 tháng 10 năm 1914, kỷ lục này ở sân khách là trận thắng Ausonia 10-0 ngày 21 tháng 10 năm 1919. Trận thua đậm nhất của A.C. Milan trên sân nhà là trận thua 0-8 trước Bologna vào ngày 5 tháng 11 năm 1922, ba trận thua trên sân khách đậm nhất của câu lạc bộ là 2-8 trước Juventus vào ngày 10 tháng 7 năm1927, 0-6 cũng trước Juventus vào ngày 25 tháng 10 năm 1925 và 0-6 trước Ajax ở Siêu cúp châu Âu vào ngày 16 tháng 1 năm 1974.[99]
Hai đối thủ truyền thống của A.C. Milan là Juventus (201 lần đối đầu),[100] Inter (199 lần đối đầu)[101] và Torino (188 lần đối đầu).[102] Tại giải vô địch quốc gia Ý, Juventus là câu lạc bộ gặp A.C. Milan nhiều lần nhất với 180 trận[100] trong đó trận đấu chính thức đầu tiên là vào ngày 28 tháng 4 năm 1901 tại Torino.[103] Tại giải quốc gia Milan có tỉ lệ thắng phần lớn cao hơn các đối thủ khác trừ ba ngoại lệ là Juventus (Milan thắng 61, thua 70),[100] Alessandria (thắng 15 và thua 16)[104] và Pro Vercelli (thắng 13 và thua 14).[105]
Ở Serie A, A.C. Milan đang giữ một số kỉ lục như chuỗi trận không thua liên tiếp dài nhất (58 trận),[106] đứng đầu nhiều vòng liên tiếp nhất (72 vòng đấu từ 6 tháng 10 năm 1991 tới31 tháng 10 năm 1993), có chiến thắng lớn nhất trên sân khách (thắng Genoa 0-8 mùa 1954-1955, ngang bằng tỉ số trận Venezia-Padova 0-8 mùa 1949-1950), có nhiều cầu thủ giành danh hiệu vua phá lưới nhất (16 lần)[107] và có thủ môn giữ kỷ lục về thời gian không để lọt lưới liên tiếp (Sebastiano Rossi với 929 phút vào mùa giải Serie A 1993-1994).[108]
Trong lịch sử Serie A thì A.C. Milan là đội duy nhất từng vô địch mà không thua một trận đấu nào trong suốt mùa giải. Đó là vào mùa giải 1991-1992[106] khi đội bóng của huấn luyện viên Fabio Capello trải qua 34 vòng đấu đã thắng 22 trận, hòa 12 trận, ghi được 74 bàn và chỉ để thủng lưới 21 bàn.[109] Trước đó từng có một câu lạc bộ khác không thua trận nào trong mùa giải Serie A, đó là Perugia vào mùa giải 1978-1979, tuy nhiên câu lạc bộ này chỉ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai[106] còn đội vô địch năm đó lại chính là A.C. Milan.[110]

Paolo Maldini, cầu thủ thi đấu nhiều trận chính thức cho A.C. Milan nhất với 902 trận.
Tại Cúp quốc gia Ý A.C. Milan đã tham dự 12 trận chung kết và giành chiến thắng 5 lần.[111] Câu lạc bộ cũng chiến thắng 5 lần trong tổng số 8 lần tham gia Siêu cúp Ý.[112] Trong số các câu lạc bộ bóng đá Ý, chỉ có Juventus có số trận chung kết cúp cấp quốc gia của Ý ngang bằng A.C. Milan, Juventus từng tham gia 13 trận chung kết Cúp quốc gia và 7 trận chung kết Siêu cúp Ý.[111][112]
Ở tầm quốc tế, A.C. Milan cùng Boca Juniors là hai câu lạc bộ có nhiều danh hiệu quốc tế nhất với 18 danh hiệu, A.C. Milan đã giành được tổng cộng 7 chức Vô địch châu Âu, 2 Cúp các đội đoạt cúp, 5 Siêu cúp châu Âu, 3 Cúp Liên lục địa và 1 chức Vô địch các câu lạc bộ thế giới.[4] Câu lạc bộ đã tham gia tổng cộng 29 trận chung kết ở các giải đấu quốc tế, một kỷ lục, với 11 trận chung kết Giải vô địch châu Âu (thắng 7),[113] 3 trận chung kết Cúp các đội đoạt cúp các quốc gia châu Âu (thắng 2)[114] 7 trận chung kết Siêu cúp châu Âu (thắng 5)[115] và 8 trận chung kết Cúp Liên lục địa/Giải vô địch thế giới các câu lạc bộ (thắng 4).[116][117] Trong số này, A.C. Milan vào 2 trận chung kết ở mùa giải 1993-1994 (gặp Parma ở Siêu cúp châu Âu và San Paolo ở Cúp Liên lục địa) là do được UEFA cử thay thế câu lạc bộ vô địch Giải vô địch châu Âu mùa 1992-1993 là Olympique de Marseille vừa bị kỷ luật do gian lận ở giải vô địch Pháp.[118]
Đối thủ quốc tế truyền thống của A.C. Milan là hai câu lạc bộ Tây Ban Nha Real Madrid[119] và Barcellona (11 lần đối đầu),[120] tiếp đến làAjax[121] cùng Bayern München (10 lần đối đầu)[122] và Porto (9 lần đối đầu).[123]
Xét các con số thống kê cá nhân thì cầu thủ khoác áo A.C. Milan nhiều lần nhất là Paolo Maldini với 902 trận chính thức trong 25 mùa giải từ1984 đến 2009, sau Maldini lần lượt là Franco Baresi (719 trận, 20 mùa giải), Alessandro Costacurta (663 trận, 21 mùa giải), Gianni Rivera (658 trận, 19 mùa giải) và Mauro Tassotti (583 trận, 17 mùa giải). Vua phá lưới mọi thời đại của A.C. Milan là tiền đạo người Thụy Điển Gunnar Nordahl với 221 bàn trong 8 mùa giải, tiếp đến là Andriy Shevchenkovới 175 bàn trong 8 mùa giải, Gianni Rivera với 164 bàn trong 19 mùa giải, José Altafini với 161 bàn trong 7 mùa giải và Aldo Boffi với 136 bàn trong 9 mùa giải.[99]

Thành tích chính[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia
29 danh hiệu
  • Scudetto.svg Star*.svg Vô địch quốc gia Ý: 18
1901190619071950-511954-551956-571958-591961-621967-681978-79 Ngôi sao scudetto (vô địch lần thứ 10)
1987-881991-921992-931993-941995-961998-992003-042010-11
  • Coccarda Coppa Italia.svg Cúp quốc gia Ý: 5
1966-671971-721972-731976-772002-03
  • Supercoppaitaliana.png Siêu cúp quốc gia Ý: 6
1988, 1992, 1993, 1994, 2004, 2011
  • Serie B: 2
1980–811982–83
Quốc tế
18 danh hiệu (kỷ lục, ngang bằng Real Madrid và Boca Juniors)[4])
  • Coppacampioni.png UEFA Champions League/Cúp C1: 7 (kỷ lục của Ý)
1962-631968-691988-891989-901993-942002-032006-07
  • Coppacoppe.png UEFA Cup Winners' Cup/Cúp C2: 2 (kỷ lục của Ý)
1967-681972-73
  • Supercoppaeuropea.png UEFA Super Cup/Siêu cúp bóng đá châu Âu: 5 (kỷ lục châu Âu)
1989; 1990; 1994; 2003; 2007
  • Copa Intercontinental.svg Vô địch Cúp Liên lục địa: 3 (Kỷ lục của Ý)
1969; 1989; 1990.
  • FIFA Club World Cup.svg Cúp vô địch thế giới các câu lạc bộ: 1
2007

Danh hiệu phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia
  • Medaglia del Re: 3 (kỷ lục)
1900, 1901, 1902
  • Cúp Liên đoàn
1915-16
Quốc tế
  • Cúp Latinh: 2 (kỷ lục, ngang bằng Barcelona và Real Madrid)
19511956
  • Cúp Mitropa
1981-82

Giải trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia
  • Campionato Primavera: 1
1964-65
  • Coppa Italia Primavera: 1
1984-85
Quốc tế
  • Torneo di Viareggio: 8 (kỷ lục, ngang bằng Fiorentina)[124]
1949, 1952, 1953, 1957, 1959, 1960, 1999, 2001

Đội tuyển trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyến trẻ (settore giovanile) của Milan bao gồm nhiều đội bóng ở các lứa tuổi trẻ thi đấu cho các giải Primavera (U-20 hạng nhất), Campionato Berretti (U-20 hạng C), Allievi Nazionali và Allievi Regionali (U-16), Giovanissimi Nazionali, Giovanissimi Regionali và hạng C (U-15), Esordienti (thiếu niên) và Pulcini (thiếu nhi). Milan còn có 5 trường dạy bóng đá (Scuole Calcio) tại Milano và nhiều cơ sở hợp tác đào tạo bóng đá trẻ khác.[125] Tất cả các đội trẻ của Milan đều tập luyện tại trung tâm thể thao Vismara thuộc khu Gratosogliocủa Milano, duy nhất đội Primavera được tập luyện cùng đội hình 1 của Milan tại trung tâm thể thao Milanello.[126]
Theo một nghiên cứu do FIGC tiến hành trên 6 cường quốc bóng đá chính ở châu Âu là Pháp, Đức, Anh, Ý, Hà Lan và Tây Ban Nha thì Milan là câu lạc bộ đứng thứ hai ở Ý (sauAtalanta) và đứng thứ 7 ở châu Âu về số lượng cầu thủ ở đội 1 tự đào tạo từ tuyến trẻ.[127] Bất chấp thực tế này cùng việc có nhiều ngôi sao của A.C. Milan xuất thân từ chính lò đào tạo của câu lạc bộ (từ Lodetti tới Baresi rồi Maldini), Milan mới chỉ một lần duy nhất giành chức vô địch Campionato Primavera (Giải vô địch bóng đá trẻ Ý) vào mùa 1964-1965[128] và một Coppa Italia Primavera (Cúp vô địch bóng đá trẻ Ý) vào mùa 1984-1985.[129] Tuy vậy ở một giải đấu quan trọng của bóng đá trẻ châu Âu là Torneo di Viareggio thì đội trẻ Milan đang cùng đội trẻ Fiorentina nắm kỷ lục về số lần vô địch với mỗi đội 8 lần.[124]

Cổ động viên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo kết quả một cuộc thăm dò do tổ chức thống kê Demos thực hiện và đăng trên tờ La Repubblica ngày 20 tháng 8 năm 2008 thì A.C. Milan là câu lạc bộ bóng đá được yêu thích thứ ba ở Ý.[8] Theo đó có 13,6% cổ động viên Ý ủng hộ Milan so với 32,5% của Juventus và 14% của Inter.[9] Theo một cuộc thăm dò khác tiến hành tháng 7 năm 2007 do viện thăm dò Renato Mannheimer (Ispo) thực hiện và kết quả được đăng trên tờ La Gazzetta dello Sport thì Milan chiếm 12,4% cổ động viên Ý, xếp sau Juventus với 17,4% nhưng xếp trên Inter với 11%. Ở cấp độ châu lục, theo một thống kê năm 2008 của tờ Sport+Markt thì Milan là câu lạc bộ có đông cổ động viên thứ 5 ở châu Âu và đứng đầu trong số các câu lạc bộ Ý.[10]
Trong nửa đầu thế kỷ 20, cổ động viên Milan thường xuất thân từ tầng lớp lao động và là người gốc miền Nam nước Ý hoặc vùng Tre Venezie. Vì vậy mà cổ động viên của đội Inter đối thủ chính thường gọi họ theo tiếng địa phương Milanese là "Casciavìt" (tương đương "cacciavite" trong tiếng Ý có nghĩa "cái tuốc-nơ-vít") với ý chê bai nguồn gốc xuất thân của cổ động viên Milan. Để đáp trả, các cổ động viên Milan (tifosi rossoneri) gọi các cổ động viên Inter là "baùscia", trong tiếng địa phương có nghĩa là "gã khoác lác" nhằm chê bai đối thủ vốn phần lớn là người Milano gốc và có xuất thân từ tầng lớp cao của xã hội.[130][131][132] Cho tới thập niên 1960 thì sự khác biệt về xuất thân này dần bị xóa nhòa và những biệt danh các cổ động viên gọi nhau dần trở nên lỗi thời và không còn ý nghĩa.
Nhóm cổ động viên cuồng nhiệt (ultras) lâu đời nhất của bóng đá Ý là nhóm Fossa dei Leoni chuyên cổ vũ cho A.C. Milan được thành lập từ năm 1968 ở Milano. Tới năm 2005 thì nhóm này giải tán vì vậy nhóm ultras lớn nhất của Milan hiện là Brigate Rossonere vốn được thành lập từ giữa thập niên 1970. Các nhóm cổ động viên của Milan thường không bộc lộ khuynh hướng về chính trị,[133][134] báo chí thường cho rằng các nhóm cổ động viên này trước kia thiên tả vì xuất thân truyền thống của họ và gần đây lại chuyển sang thiên hữu vì chủ tịch Milan nhiều năm kiêm thủ tướng Ý Silvio Berlusconi là một nhà chính trị trung hữu.[135]
Các nhóm kết nghĩa truyền thống của cổ động viên Milan là cổ động viên Brescia[136] và Reggina.[133] Trong thời gian gần đây cổ động viên Milan còn một nhóm kết nghĩa mới đến từ Sevilla xuất phát từ những cử chỉ đẹp của cầu thủ và cổ động viên hai đội trong trận tranh Siêu cúp châu Âu năm 2007 vốn diễn ra ngay sau cái chết bất ngờ trên sân cỏ củaAntonio Puerta, tiền vệ Sevilla.[137][138] Trước kia Milan còn một số nhóm cổ động viên kết nghĩa khác đến từ Bologna và Como,[134] tuy vậy quan hệ này hiện không còn được duy trì vì nhiều lý do, trong đó có sự tan rã của nhóm cổ động viên Como Fossa Lariana.[133]
Cũng giống như trên sân cỏ, các nhóm cổ động viên đối thủ chính của Milan là cổ động viên đến từ Inter, Juventus hay Genoa trong đó đối thủ lớn nhất và lâu đời nhất là các nhóm cổ động viên của Inter. Các trận đối đầu của hai đội bóng được mệnh danh là Derby della Madonnina, bắt nguồn từ bức tượng Madonna có tên Madonnina đặt trên đỉnh nhà thờDuomo di Milano, đây đều là những trận đấu hết sức căng thẳng và quyết liệt cả bên trong và bên ngoài sân cỏ. Mặc dù trong thời gian gần đây Milan và Juventus có nhiều quan hệ qua lại nhưng cổ động viên hai đội vẫn luôn ở thế đối đầu.[139][140] Cổ động viên Genoa trước kia từng có quan hệ tốt với cổ động viên Milan, tuy vậy kể từ đầu thập niên 1980sau nhiều vụ va chạm, cổ động viên Genoa cũng bắt đầu quay sang đối địch với cổ động viên Milan.[133][141][142] Ngoài các đổi thủ chính, cổ động viên Milan còn có va chạm với cổ động viên một số câu lạc bộ khác như NapoliVeronaLazio,[143] AtalantaRoma[142] FiorentinaSampdoria và Cagliari.[133][136]

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty Milan[sửa | sửa mã nguồn]


Adriano Galliani, phó chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của A.C. Milan.
AC Milan.svg
Nhà tài trợ của A.C. Milan
Tài trợ chính thức
  • 1899-1981: Không có
  • 1981-1982: Pooh Jeans
  • 1982-1983: Hitachi
  • 1983-1984: Olio Cuore
  • 1984: Rete 4
  • 1984-1985: Oscar Mondadori
  • 1985-1987: Fotorex U-Bix
  • 1987-1992: Mediolanum
  • 1992-1994: Motta
  • 1994-2006: Opel
  • 2006-2010: Bwin
  • từ 2010: Emirates[144]
Tài trợ trang phục
  • 1978-1979: Adidas
  • 1979-1980: Adidas - Linea Milan
  • 1980-1982: Linea Milan
  • 1982-1984: NR
  • 1984-1985: Rolly Go
  • 1985-1986: Gianni Rivera
  • 1986-1990: Kappa
  • 1990-1993: Adidas
  • 1993-1998: Lotto
  • 1998-2017: Adidas[145]
A.C. Milan hoạt động với tư cách một công ty thông qua tên đăng ký Associazione Calcio Milan S.p.A. với giá trị 48 triệu cổ phiếu, mỗi cổ phiếu có giá 52 cent. 99,92973% số lượng cổ phiếu do Fininvest Spa nắm giữ,[146] đây là tập đoàn do gia đình Berlusconi nắm giữ. Với tư cách công ty con của Finivest, thua lỗ của Milan sẽ được Finivest bù đắp bởi lợi nhuận do các công ty con làm ăn phát đạt khác như nhà xuất bản Arnoldo Mondadori Editore mang lại. Hội đồng quản trị của công ty Milan gồm:[14]
  • Chủ tịch: ghế trống[11]
  • Phó chủ tịch kiêm giám đốc điều hànhAdriano Galliani
  • Phó chủ tịch:
    • Paolo Berlusconi
    • Gianni Nardi
  • Thành viên khác:
    • Pasquale Cannatelli, giám đốc điều hành Fininvest
    • Leandro Cantamessa
    • Michele Carpinelli
    • Alfonso Cefaliello
    • Francesco Forneron Mondadori
    • Giancarlo Foscale
    • Livio Gironi
    • Paolo Ligresti
Associazione Calcio Milan S.p.A. là công ty nắm 100% vốn của Milan Entertainment SrlMilan Real Estate Spa vàFondazione Milan Onlus. Ngoài ra công ty còn giữ 50% vốn của Consorzio San Siro Duemila, 45% của ASanSiro và một phần giá trị của câu lạc bộ bóng rổ Olimpia MilanoMilan Real Estate Spa là công ty quản lý một số bất động sản ở Turati 3 cũng như khu huấn luyện thể thao của A.C. Milan là MilanelloConsorzio San Siro Duemila là công ty quản lý sân Giuseppe Meazza với 50% vốn thuộc về Milan, một nửa còn lại do Inter nắm giữ.[147] ASanSiro là một trung tâm phục vụ phát triển khu vực San Siro với 45% vốn thuộc về Milan, 45% thuộc về Inter và 10% thuộc về Fondazione ChiamaMilano (10%).

Tay đua Robert Doornbos của đội Milan thuộc Superleague Formula.
Kể từ năm 2008, công ty Milan bắt đầu tham gia giải đua ô tô Superleague Formula.[148] Đây là một trong hai đội của Ý tham dự giải này, đội còn lại là A.S. Roma.[149] Milan cùng Galatasaray đều hỗ trợ tài chính cho đội đua Scuderia Playteam.[150] Tay đua của Milan ở đội này là Robert Doornbos, một tay lái trước kia từng tham gia đua Công thức 1. Trong mùa đua 2008, đội đua của Milan đã giành vị trí xuất phát (pole position) tại Nürburgring và chiến thắng ở hai chặng đua Nürburgring, Jerez.[151][152]

Số liệu tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Theo báo cáo tài chính năm 2008 thì công ty Milan đạt doanh thu 237,9 triệu euro với thua lỗ 66,8 triệu euro.[153] Đây là năm thua lỗ thứ 2 liên tiếp của Milan khi năm 2007 câu lạc bộ này cũng lỗ 32 triệu euro.[146] Năm 2006 với vụ chuyển nhượng Andriy Shevchenko sangChelsea với giá 42 triệu euro, Milan kết thúc năm tài chính bằng khoản lãi 2,5 triệu euro.[154][155]
Ngân sách năm 2007 của câu lạc bộ là 95.677.000 euro,[146][156] năm 2006 con số này là 70.678.162 euro và 2005 là 72.946.400 euro.[154][157] Lợi nhuận năm 2007 của câu lạc bộ là 275.442.000 euro với hai nguồn chính là 56,5% đến từ tiền bản quyền truyền hình (khoảng 155 triệu euro, 73,8 triệu từ SKY Italia, 27,5 triệu từ R.T.I. và 48,3 triệu từ UEFA và FIFA) và 12,2% đến từ các nhà tài trợ (33,7 triệu, 14,2 triệu từ BETandWIN.com Interactive Entertainment AG và 14 triệu từ Adidas Italia Srl).[156] Từ năm 2004 đến 2007 báo cáo tài chính của A.C. Milan do hãng Deloitte & Touche kiểm toán,[158] từ năm 2008 tới năm 2016 công ty phụ trách kiểm toán cho A.C. Milan làReconta Ernst & Young Spa.[146]

Hoạt động nhân đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh lĩnh vực kinh doanh, Milan còn là một câu lạc bộ tham gia tích cực vào các hoạt động nhân đạo. Câu lạc bộ đã cho thành lập quỹFondazione Milan Onlus, quỹ này hoạt động ở cả Ý và nước ngoài với mục tiêu hỗ trợ giáo dục, thể thao và các dịch vụ xã hội cho người nghèo.[159] Fondazione Milan Onlus cũng hợp tác với quỹ Fundação Gol de Letra, được thành lập bởi cựu cầu thủ Milan là Leonardo, để giúp đỡ trẻ em Brasil là nạn nhân của tệ nạn buôn bán ma túy.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét